Quy định mới về ủy quyền hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng
CTTĐT - Theo Luật BHXH số 41/2024/QH15 (Luật BHXH năm 2024), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, quy định về ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp BHXH và các chế độ khác có một số điểm mới quan trọng.
Quy định mới về ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp BHXH và các chế độ khác
Cụ thể, văn bản ủy quyền chỉ có hiệu lực tối đa 12 tháng kể từ ngày xác lập ủy quyền.
- Nếu ủy quyền ký từ 01/7/2025 (có giá trị 12 tháng kể từ ngày ký)
- Nếu ủy quyển ký trước 01/7/2025: Nếu hết hạn trước 30/6/2026 (có giá trị đến ngày hết hạn), nếu hết hạn sau 30/6/2026 (có giá trị đến ngày 30/6/2026)
Để bảo đảm công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng được thực hiện thông suốt, đúng quy định, không làm gián đoạn quyền lợi, người thụ hưởng cần lưu ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, đối với việc ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp BHXH và chế độ khác: Văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực và có hiệu lực tối đa 12 tháng kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Sau thời gian này, nếu vẫn có nhu cầu ủy quyền, người thụ hưởng phải lập lại văn bản ủy quyền theo đúng quy định; đồng thời, văn bản ủy quyền bắt buộc phải được chứng thực theo quy định của pháp luật để bảo đảm tính pháp lý.
Thứ hai, trường hợp giấy ủy quyền đã lập theo quy định của Luật BHXH số 58/2014/QH13 thực hiện đã hết hiệu lực, người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH phải xác lập lại việc ủy quyền hoặc làm thủ tục chứng thực theo quy định kịp thời để không bị gián đoạn trong việc nhận lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng.
Thứ ba, đối với người hưởng nhận chế độ BHXH qua tài khoản cá nhân tại ngân hàng, định kỳ hằng năm có trách nhiệm phối hợp cơ quan BHXH hoặc tổ chức hỗ trợ chi trả chế độ được cơ quan BHXH ủy quyền để thực hiện việc xác minh thông tin đủ điều kiện thụ hưởng chế độ BHXH theo quy định.
Việc tuân thủ đầy đủ các quy định về ủy quyền không chỉ góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người thụ hưởng mà còn giúp cơ quan BHXH thực hiện chi trả đúng đối tượng, hạn chế rủi ro, sai sót và phòng ngừa phát sinh tranh chấp.
Đối tượng, quy trình tham gia và thụ hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung
Ngày 25/3/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung (Nghị định số 85/2026/NĐ-CP). Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật BHXH năm 2024, góp phần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bổ sung thêm kênh tích lũy thu nhập cho người lao động khi về già.
Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP, Nghị định điều chỉnh các nội dung liên quan đến việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung; thiết lập, quản lý và đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; hoạt động của doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí; đồng thời quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan;...
Đối tượng tham gia trên cơ sở tự nguyện
Căn cứ Điều 4 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP, đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung bao gồm người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật BHXH năm 2024.
Việc tham gia được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, thông qua người sử dụng lao động và chương trình do doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai. Nghị định nhấn mạnh, bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc trong tuyển dụng, ký kết hoặc gia hạn hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, hạn chế quyền lợi hoặc gắn việc tham gia với các tiêu chí thi đua, khen thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp.
Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do hai bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện. Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận với người lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung; đồng thời, thực hiện đóng cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.
Điều kiện hưởng và các trường hợp được chi trả
Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP, điều kiện để người lao động được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư phải được quy định rõ trong văn bản thỏa thuận giữa hai bên. Trường hợp có yêu cầu về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không được vượt quá 05 năm.
Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp này khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này hoặc khi thuộc một trong các trường hợp sau: Bị tử vong; đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS; có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng; người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc có giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
Quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được quy định cụ thể tại Điều 6 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP, gồm các bước chính:
Thứ nhất, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận, tổ chức lấy ý kiến người lao động. Sau khi đạt được sự đồng thuận, tiến hành ký kết với từng người lao động hoặc với tổ chức công đoàn đại diện theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực.
Thứ hai, người sử dụng lao động ký hợp đồng tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí. Trên cơ sở danh sách tham gia, doanh nghiệp quản lý quỹ sẽ mở tài khoản hưu trí cá nhân cho từng người lao động.
Thứ ba, căn cứ chương trình đã đăng ký và nội dung thỏa thuận, người sử dụng lao động thực hiện đóng góp vào quỹ, bao gồm phần đóng của doanh nghiệp và phần người lao động ủy thác đóng hộ (nếu có), đồng thời thông báo chi tiết cho đơn vị quản lý quỹ.
Khoản tiền trong mỗi tài khoản hưu trí cá nhân gồm: (1) Phần đóng góp của người sử dụng lao động cho người lao động (nếu có); (2) Phần đóng góp của người lao động (nếu có).
Bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm các bên
Tại Điều 7 và Điều 8 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ quyền và trách nhiệm của các bên tham gia. Người lao động được quyền theo dõi tài khoản, hưởng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, chuyển đổi quỹ hoặc bảo lưu tài khoản khi thay đổi việc làm. Đồng thời, người lao động phải tự đánh giá rủi ro và chịu trách nhiệm với quyết định tham gia, do Nhà nước không bảo đảm mức sinh lời của quỹ.
Đối với người sử dụng lao động, ngoài trách nhiệm đóng góp đúng cam kết, còn được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản đóng cho người lao động theo quy định của pháp luật thuế.
Nghị định số 85/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện.