Skip Navigation LinksCổng thông tin điện tử Sở y tế » Kiến thức y học
rss
 
Bệnh dại và cách phòng chống  (01/07/2011 )
 

1.Đặc điểm của bệnh dại

        Bệnh Dại là bệnh của động vật, có thể là động vật hoang dại (thường là động vật ăn thịt : cáo, chó sói , chó rừng, dơi hút máu, dơi ăn côn trùng) hoặc động vật nuôi như:  chó, mèo, trâu, bò.

Người bị mắc bệnh dại là do bị  lây truyền virus dại  qua vết cắn , vết xước do bị cắn, cào bởi động vật bị dại  (thường là động vật nuôi) .

      Bệnh dại là bệnh viêm não tủy cấp tính của hệ thống thần kinh Trung ương từ động vật lây sang người bởi chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm virus dại. Khi đã lên cơn dại, kể cả động vật  và người đều dẫn đến tử vong. Lúc đầu người bệnh có cảm giác đau đầu, sợ hãi, sốt, khó chịu và những thay đổi cảm giác dị thường tại  vết thương nơi  bị súc vật cắn. Bệnh tiến triển đến liệt hoặc bị liệt. Các cơ nuốt của thực quản bị co thắt khi thử nước, nên người bệnh sợ nước,  người bệnh mê sảng và co giật. Bệnh thường kéo dài từ 2 - 6 ngày rồi chết do liệt cơ hô hấp.

2. Nguyên nhân

   Bệnh dại  do virus thuộc họ Rhabdo viridae, giống Lyssavirus gây nên .

3. Ổ chứa virus

   Phần lớn ổ chứa virus dại tập trung  ở loài  chó hoang dã và chó nhà, bao gồm: chó, chó sói đồng,  chó sói và chó rừng. Ngoài ra còn có ổ chứa ở mèo, chồn, cầy và những loài động vật có vú khác.

4. Phương thức  lây truyền bệnh

Nước dãi mang virus của súc vật bị dại được truyền sang súc vật hoặc người cảm nhiễm qua vết cắn, có thể qua vết cào, vết rách, xước trên da hoặc rất hiếm có thể qua niêm mạc còn nguyên vẹn.

Sự lây truyền từ người sang người có thể xảy ra từ nước dãi của người bị bệnh có virus dại. Nhưng cần lưu ý rằng: sau khi bị chó dại cắn , nếu người bị cắn chưa lên cơn dại ( nghĩa là người đó đang ở thời kỳ ủ bệnh) thì không có khả năng làm lây nhiễm bệnh (tuy nhiên việc lây truyền bệnh từ người sang người  mới chỉ có tài liệu công bố và nguyên nhân của trường hợp này là  do cấy ghép giác mạc lấy từ người bị chết vì dại mà không được chẩn đoán).

5. Biểu hiện bệnh tiến triễn qua 3 thời kỳ:

*Thời kỳ ủ bệnh: thời kỳ này tương ứng với sự di chuyển và nhân lên của virus. Thời gian ủ bệnh dài hay ngắn tùy thuộc vào khoảng cách từ vị trí vết cắn đến thần kinh trung ương xa hay gần , vết cắn càng gần thần kinh trung ương thi thời gian ủ bệnh càng ngắn .

Thời gian ủ bệnh trung bình là 30-90 ngày ( 80% trường hợp), có những trường hợp nhanh dưới 20 ngày ( 5-10% trường hợp ) hoặc chậm hơn 3 tháng (7-20% trường hợp). Thậm chí kéo dài hơn cả năm ( 1,8% trường hợp ). Thời gian ủ bệnh ngắn nhất được tìm thấy khi vết cắn ở đầu, mặt, tay và đặc biệt là đối với trẻ em.

* Thời kỳ khởi phát: Từ 2-4 ngày trước khi phát bệnh, bệnh nhân thấy đau nhức nơi vết cắn , vết cắn bị  sưng tấy. Những dấu hiệu này lan rộng dọc theo hệ thống thần kinh và hệ thống bạch huyết .Đồng thời người bệnh còn có các triêu chứng  : bồn chồn, thổn thức, la hét, chán nản vô cớ .

* Thời kỳ toàn phát: Có 3 thể lâm sàng:

Thể co thắt:

- Đây là thể thường gặp nhất. Đặc điểm của thể này  là co cứng, co thắt, co giật, run các cơ kể cả cơ mặt. Co thắt hô hấp và co thắt thanh quản khiến bệnh nhân khó thở là biểu hiện tổn thương hành tủy và là triệu chứng đặc trưng của bệnh.

- Sợ nước: bệnh nhân thường rất khát nhưng khi uống nước họ bị co thắt lồng ngực, bị run câm cập. Trạng thái này qua mau nhưng để lại ân tượng  kéo dài cho bệnh nhân, vì vậy họ không muốn uống nước mặc dù rất khát. Từ đó dẫn đến chỉ cần nhìn thấy 1 ly nước hoặc nghe tiếng nước chảy cũng sợ.

- Sợ ánh sáng: được mô tả tương tự như biểu hiện sợ nước.

 Tính cách bệnh nhân không bình  thường. Bệnh nhân bị phấn khích quá độ khi bị kích thích. Không phát hiện thấy dấu hiệu mất tri thức.

- Những cơn co thắt đầu tiên còn xa nhau, càng ngày càng  dày hơn và người bệnh  thường tử vong sau 3- 4 ngày do ngất hoặc ngạt trong một cơn co thắt sợ nước hoặc sau một cơn hôn mê.

Thể liệt:

    -Thể này hiếm hơn, kém điển hình hơn, không có dấu hiệu phấn khích quá độ. Bệnh xuất hiện rất nhanh sau giai đoạn co thắt, run. Liệt có thể tiên phát và bắt đầu ở 1 chi hoặc 2 chi dưới rồi lan lên trên ( hội chứng Landry ) hoặc xuống dưới. Người bệnh thường bị  tử vong do ngạt nước hoặc ngất vào ngày thứ 4. Diễn tiến bệnh thường không quá 4 -10 ngày.

Thể cuồng:

  - Bệnh nhân bị kích thích quá độ, có những phản ứng dữ tợn, trở nên hung bạo. Vì vậy bệnh nhân thường có những hành vi không bình thường như chống lại y, bác sĩ và những người quanh mình. Thể trạng suy sụp nhanh, hôn mê, ngất và chết.

 6. Xử trí sau khi bị súc vật cắn :

- Người bị chó, mèo cắn, kể cả khi con vật đã được tiêm phòng dại, cần xử lý ngay vết cắn bằng xà phòng đặc dưới vòi nước sạch hoặc chất sát trùng. Chú ý khi rửa vết thương không được làm dập nát vết thương và chỉ khâu vết thương sau 3-5 ngày để hạn chế virut tản phát. Sau đó đến  phòng tiêm vắc xin dại các trung tâm y tế dự phòng tỉnh / huyện  để khám và nhận điều trị dự phòng bằng kháng huyết thanh dại và vắc xin dại theo thường quy.

- Chú ý: Theo dõi triệu chứng biểu hiện của súc vật cắn người trong vòng 15 ngày kể từ ngày cắn để phát hiện những dấu hiệu nghi ngờ bệnh dại. Súc vật cắn người này không được giết chết. Nếu súc vật bị nhiễm virus dại trong thời gian cắn người thì những triệu chứng dại ở súc vật đó sẽ xuất hiện khoảng 5 –7 ngày sau khi cắn với những biểu hiện thay đổi tính tình, chó dễ bị kích động hoặc bị liệt và chết thì phải đến tiêm phòng ngay. Với tr­ường hợp chó cắn ngư­ời trong thời gian 15 ngày trở lại chó chết hoặc không theo dừi được con chó cắn, không nhớ đi tiêm, thì khi đến tiêm bất kỳ thời gian nào cũng phải tiêm phòng dại.

   * Tại phòng tiêm chủng vắc xin dịch vụ - Trung tâm Y tế Dự phòng Lào Cai, khám và tư  vấn tiêm phòng dịch vụ tất cả các loại vắc xin.

                       Điện thoại: 0203 847 043 - 016 77 88 22 00.


BS. Thái Hoàng Yến - Khoa dịch tễ - TTYTDP tỉnh Lào Cai 


pvhong-syt