Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc ít người ở Lào Cai  (14/08/2009 )

Lào Cai là một tỉnh đa dân tộc, đa văn hóa. Riêng cộng đồng tộc người cư trú thành làng, bản ở Lào Cai đã có tới 13 dân tộc với 25 ngành, nhóm khác nhau. Kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú. Di sản văn hóa Lào Cai tạo thành bản sắc riêng và cũng là nguồn lực cho Lào Cai phát triển.

Nhưng hiện nay trước làn sóng đô thị hóa, trong điều kiện mở cửa và giao thương phát triển mạnh, Lào Cai ở gần biên giới với Trung Quốc, di sản văn hóa các dân tộc có nguy cơ bị mai một nhanh chóng .Trong điều kiện hội nhập phát triển mạnh, một vấn đề đặt ra là phải bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc ít người ở Lào Cai. Nhưng muốn bảo tồn được các di sản văn hóa đòi hỏi phải thay đổi về mặt nhận thức, có quan điểm chỉ đạo mang tính chất khoa học đồng bộ của các cấp đảng, chính quyền. Mặt khác, phải xây dựng được các giải pháp, cơ chế chính sách phù hợp.

Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Theo điều 4 của Luật di sản văn hoá sửa đổi bổ sung, di sản văn hoá phi vật thể là: “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác(1), di sản văn hoá vật thể là: “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia(2).

1. Lào Cai là một tỉnh có đông thành phần dân tộc tạo nên tính đa dạng văn hóa. Tính đa dạng càng đậm nét ở văn hóa tộc người. Lào Cai có mặt các cư dân của 3 trong số 4 ngữ hệ lớn của Việt Nam. Tính đa dạng, phong phú của văn hóa Lào Cai thể hiện cả trong văn hóa vật thể và phi vật thể. Nếu căn cứ vào sự cấu tạo của nền nhà, các tộc người Lào Cai có 3 loại hình nhà chính: nhà nền đất (tiêu biểu là các dân tộc Việt, Hmông, Hoa...), nhà nửa sàn nửa đất của dân tộc Dao (nhóm Dao đỏ...), nhà sàn (người Tày, Thái...). Trong loại hình nhà nền đất có các loại nhà đất của người Việt nhưng cũng có loại nhà nền đất trình tường của người Hmông, nhà nền đất trình tường theo kiểu pháo đài của người Hà Nhì...Trong loại hình nhà sàn có loại nhà sàn bốn mái gần như hình vuông của người Tày nhưng cũng có kiểu nhà sàn mái tròn của người Thái đen, hoặc nhà sàn tường trình của người Tày, Bắc Hà...

Về trang phục, Lào Cai luôn rực rỡ sắc màu, phong phú về kiểu loại. Mỗi tộc người có kiểu trang phục khác nhau. Nhưng trong cùng tộc người cũng có những ngành có trang phục riêng. Mỗi ngành Dao trang phục đều khác nhau. Trang phục người Hmông hoa, Hmông xanh, Hmông đen, Hmông trắng cũng có kiểu cách, màu sắc khác hẳn nhau. Phụ nữ Hmông ở các huyện khác mặc váy nhưng phụ nữ Hmông ở Sa Pa lại mặc quần cộc. Đặc biệt cũng là người Tày nhưng người Tày ở Văn Bàn, Bảo Yên mặc áo ngắn, váy ngắn, còn người Tày ở Bắc Hà lại mặc áo dài và quần dài. Mỗi phiên chợ vùng cao Lào Cai đều là nơi gặp gỡ hội tụ của nhiều kiểu trang phục.

Tính đa dạng, phong phú của văn hóa thể hiện rõ nét ở nghệ thuật dân gian, đặc biệt là nghệ thuật âm nhạc. Chỉ tính riêng nhạc khí Lào Cai đã có đủ 10 họ với 10 chi khác nhau. Trong văn học dân gian, mỗi dân tộc có đầy đủ cả hệ thống các loại hình văn học từ truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn đến dân ca, truyện thơ. Mỗi một loại hình văn học dân gian lại có các tiểu loại hình phong phú. Như vậy, tính đa dạng văn hóa tộc người đã tạo thành nguồn lực cho Lào Cai phát triển, tạo thành sắc thái riêng của Lào Cai (3).

2. Suốt một thời gian dài từ năm 1954 cho đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, di sản văn hóa dân gian Lào Cai bị mai một nghiêm trọng. Bên cạnh các nguyên nhân khách quan (giao lưu văn hóa với Trung Quốc, với người Kinh diễn ra mạnh mẽ...) còn có những nguyên nhân chủ quan về nhận thức, chính sách. Các cấp chính quyền thời đó mắc phải sai lầm ấu trĩ tả khuynh, có nhận thức không đúng về di sản văn hóa. Họ cho rằng di sản văn hóa các dân tộc ít người là sản phẩm của xã hội cũ, lạc hậu. Nhiều cán bộ người Kinh lên công tác ở Lào Cai đều chung một nhận định vùng đồng bào các dân tộc thiểu số rất lạc hậu nên cần phải cải tạo phong tục tập quán, xóa bỏ những phong tục cũ mà họ cho rằng không phù hợp. Họ lấy khuôn mẫu của người Kinh nhằm áp đặt cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Người Hmông ăn tết trước một tháng theo lịch cổ truyền của đồng bào thì họ cho rằng tốn kém nên phải buộc ăn tết cùng với người Kinh, người Hán. Ngay lịch chợ phiên ở vùng cao, cứ 5 ngày có một phiên chợ, cả một tuần người dân có thể đi được 5 chợ khác nhau,sự trao đổi hàng hóa diễn ra sôi động, thuận lợi. Nhưng do ấu trĩ nhiều nơi cấm đồng bào họp chợ theo phiên và phải họp chợ vào chủ nhật (để dành thời gian sản xuất...). Lễ hội của các dân tộc là sinh hoạt văn hóa độc đáo và cực kỳ quan trọng đối với đời sống tinh thần của người dân, nhưng từ sau cải cách dân chủ năm 1959 đều bị chính quyền cấp xã và huyện ngăn cấm không cho đồng bào mở hội. Nghiêm trọng hơn, đời sống tín ngưỡng dân gian bị phá vỡ. �z nhiều huyện, chính quyền các cấp không phân biệt được tín ngưỡng với mê tín dị đoan, nên dưới khẩu hiệu chống mê tín dị đoan đã xóa bỏ, ngăn cản các hoạt động tín ngưỡng của người dân. Thậm chí ở các xã Vạn Hòa huyện Bảo Thắng, Nậm Đét huyện Bắc Hà còn tịch thu sách cổ đem đốt, không cho các thầy cúng hành nghề...Trước nhận thức và hành động ấu trĩ tả khuynh như vậy, đời sống văn hóa truyền thống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều di sản văn hóa bị đứt đoạn. Lễ hội cúng rừng, các tín ngưỡng bảo vệ rừng và bảo vệ nguồn nước bị coi là mê tín, nên hàng loạt khu rừng thiêng bị tàn phá. Người Hmông bị đứt đoạn văn hóa truyền thống, chối bỏ tín ngưỡng tổ tiên đã đi theo “Vàng Chứ” và Tin lành một cách ồ ạt vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Các di sản văn hóa như sách cổ, các lễ hội như hội “Gầu tào” của người Hmong, lễ “Pút tồng” của người Dao, hội “Gioóng Poọc” của người Giáy không được tổ chức. Thậm chí những tri thức dân gian về cây thuốc và phòng chữa bệnh cũng bị mất mát.

3. Từ khi công cuộc đổi mới (cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX)  đến nay, một làn gió mới về bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc đã thổi khắp Lào Cai. Trước hết về mặt nhận thức, cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đã từng bước khắc phục được tư tưởng ấu trĩ tả khuynh, tôn trọng đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Đặc biệt, từ năm 2001 đến nay Đảng bộ tỉnh Lào Cai đã xây dựng và thực hiện Đề án “Phát triển văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc Lào Cai giai đoạn 2006 – 2010”. Đề án đã đề ra các giải pháp, tăng cường đầu tư nguồn lực kinh phí để bảo tồn di sản văn hóa dân tộc(4).

3.1 Về mặt nhận thức:

Các cấp chính quyền, tổ chức cơ sở đảng đều nhận thức di sản văn hóa là động lực phát triển kinh tế xã hội. Di sản văn hóa của các dân tộc ít người tạo ra bản sắc văn hóa của tộc người cần được tôn trọng và bảo tồn. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng phong tục tập quán các dân tộc thực sự là tôn trọng dân tộc. Mặt khác, các di sản văn hóa còn là nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo ở địa phương.

3.2 Các bước tiến hành khảo sát, thống kê các di sản:

- Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai đã giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành khảo sát thống kê từ cơ sở các loại hình di tích, danh lam thắng cảnh. Trên cơ sở đó bước đầu lập hồ sơ khoa học và phân loại các di tích theo loại hình di tích cấp quốc gia và di tích cấp tỉnh.

- Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến hành khảo sát ở 2.000 làng trong thời gian 10 năm nhằm tổng kiểm kê hệ thống di sản văn hóa phi vật thể. Trong đó, đã chú trọng phân loại các loại hình di sản văn hóa phi vật thể chủ yếu như nghệ thuật dân gian (nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình), tri thức dân gian, các nghề thủ công, các lễ hội và phong tục tập quán, chữ viết và ngôn ngữ các dân tộc ít người...

3.3 Trên cơ sở thống kê phân loại các di sản, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai đã cùng với người dân ở các làng, bản đã tiến hành bảo tồn, phục dựng các di sản văn hóa tiêu biểu.

- Trong 17 năm qua (từ năm 1992 đến nay), đặc biệt là từ năm 2001, người dân Lào Cai đã khôi phục được toàn bộ hệ thống lễ hội ở các dân tộc ít người với 34 lễ hội tiêu biểu. Một số lễ hội trước kia bị cấm tổ chức nay đã trở thành hội có quy mô lớn của cả vùng như lễ hội “Gầu tào” của người Hmong, lễ hội rước đất rước nước của người Tày, lễ hội “Khu già già” của người Hà Nhì...Nhiều lễ hội đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn đón nhiều du khách nước ngoài đến tham quan như lễ hội Đền Thượng ở Thành phố Lào Cai, lễ hội “Gầu tào” ở xã Pha Long huyện Mường Khương, lễ hội “Gioóng poọc” của người Giáy ở xã Tả Van huyện Bát Xát...Tỉnh Lào Cai cũng xây dựng Dạ hội đêm giao thừa. Dạ hội thu hút được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia, tạo thành một phong tục mới độc đáo ở biên giới. Trong dạ hội từ đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đến người dân thường sau khi tham gia các hoạt động văn nghệ đều lên Đền Thượng (thờ Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo) và Đền Mẫu – 2 cột mốc văn hóa ở ngay sát biên dâng hương tưởng nhớ các vị anh hùng có công với đất nước. Các lễ hội được phục dựng và bảo tồn không chỉ góp phần bảo vệ di sản văn hóa các dân tộc mà còn cố kết tính cộng đồng, đề cao tình đoàn kết các cư dân của vùng biên giới.

- Chương trình sưu tầm và bảo tồn sách cổ, chữ viết cổ và tiếng nói của các dân tộc ít người cũng được coi trọng. Sau khi được Văn phòng quỹ Ford Hà Nội tài trợ, đề án “Bảo tồn sách cổ người Dao” đã được tiến hành rộng khắp vùng người Dao ở Lào Cai. Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến hành khảo sát 466 làng người Dao, thống kê hơn 10 vạn cuốn sách cổ, vận động nhân dân bảo tồn sách cổ, đóng dấu di sản văn hóa ở từng cuốn sách nhằm tránh tình trạng bán sách cổ cho người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng hơn của dự án là làm cho người Dao tôn trọng kho tàng sách cổ của cha ông, tổ chức 10 lớp học thí điểm về chữ Nôm Dao. Người dân rất hào hứng tham gia dự án, họ đã biên tập được 3 tập giáo trình chữ Nôm Dao phù hợp với 3 ngành Dao tuyển, Dao đỏ, Dao họ ở Lào Cai. Đặc biệt, cộng đồng người Dao còn tự tổ chức 29 lớp học chữ Nôm Dao cho thanh niên và phụ nữ. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai còn được tổ chức UNESCO tài trợ cho dự án bảo tồn ngôn ngữ Kháng, một cư dân có hơn 2.000 người ở huyện Than Uyên (trước đây thuộc tỉnh Lào Cai, nay thuộc tỉnh Lai Châu). Bộ giáo trình ngôn ngữ Kháng được biên soạn và tổ chức được nhiều lớp dạy cho trẻ em các làng người Kháng. Hệ thống chữ Nôm Tày, Nôm Giáy cũng được nghiên cứu sưu tầm. Chữ Hmông đã trở thành chữ viết phổ cập ở vùng người Hmông.

- Xác định di sản văn hóa ở Lào Cai trở thành nguồn lực phát triển kinh tế xã hội nên tỉnh Lào Cai đã xây dựng chương trình “biến di sản thành tài sản”. �z các huyện Bắc Hà, Sa Pa, Mường Khương đều xây dựng các làng văn hóa du lịch. Mỗi một làng khi tiến hành xây dựng trở thành một điểm du lịch đều bảo tồn các di sản văn hóa. �z đây du khách được tham quan cảnh đẹp thiên nhiên, tham quan các nghề thủ công, xem văn nghệ và nghỉ tại các căn nhà cổ truyền của đồng bào các dân tộc. Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của làng đều được bảo tồn và trở thành tài sản để khách du lịch chiêm ngưỡng. Nhưng khác với các làng du lịch ở Trung Quốc và Thái Lan, khác với làng du lịch ở Mai Châu – Hòa Bình, các làng du lịch văn hóa ở Lào Cai tôn trọng tính nguyên bản của di sản văn hóa. Trung tâm Thông tin du lịch có hẳn một trang website giới thiệu các ngày lễ, ngày hội, các sinh hoạt đời thường diễn ra trong một thời gian nhất định ở từng làng. Các sinh hoạt này là các sinh hoạt thật chứ không có cảnh đóng giả đám cưới, đóng giả ngày hội nhằm thu hút khách. Với quan điểm phát triển bền vững nên quy chế ở các làng văn hóa du lịch đều bác bỏ hình thức đóng giả hút khách. Đồng thời hệ thống các ngành nghề thủ công truyền thống của các dân tộc cũng được khơi dậy, đầu tư sản xuất các đồ lưu niệm, các sản phẩm phục vụ du lịch. Trong đó, đặc biệt là các mặt hàng thổ cẩm, các đồ chạm khắc bạc, các sản phẩm rèn, mộc...Tuy các sản phẩm thủ công được các doanh nghiệp bao tiêu và xuất khẩu, được khách  du lịch ưa chuộng nhưng vẫn cố gắng giữ gìn các sắc thái riêng của từng dân tộc. Nếu ở vùng biên thổ cẩm của người Hmông ở Trung Quốc chủ yếu là may bằng máy với các họa tiết hoa văn đơn giản, thì thổ cẩm của người Hmông ở Sa Pa chủ yếu làm bằng thủ công, giữ gìn các họa tiết cổ truyền. Nhờ tìm ra sắc thái riêng nên mặt hàng thổ cẩm người Hmông, người Dao ở Sa Pa vẫn được đông đảo du khách ưa chuộng, thu hút hàng nghìn lao động phụ nữ tham gia, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân. Mặt khác, các di tích văn hóa ở Lào Cai đều được trùng tu, tôn tạo và trở thành các điểm tham quan hấp dẫn. Trong 10 năm qua Lào Cai đã bỏ ra 20 tỉ VNĐ trùng tu, tôn tạo các di tích. Nhưng số tiền công đức và tham quan du lịch của các di tích đã thu về được gần 40 tỉ VNĐ. Một xí nghiệp xuất khẩu giấy ở Bảo Hà năm 2008 nộp thuế cho Nhà nước được gần 300 triệu đồng nhưng riêng di tích đền Bảo Hà đã thu được gần 3 tỉ VNĐ, gấp 10 lần xí nghiệp. Các di tích gắn liền với du lịch thực sự trở thành nguồn lực của tỉnh.

- Xuất phát từ nhận thức mỗi một vùng, mỗi một cộng đồng tộc người đều có một sản phẩm riêng mang dấu ấn văn hóa, tỉnh Lào Cai đã xây dựng chương trình “từ di sản trở thành đặc sản”. Các làng bản, các cộng đồng tộc người ở Lào Cai đều khai thác các ngành nghề thủ công, các cây con thế mạnh...nhằm xây dựng thành các đặc sản mang dấu ấn văn hóa tộc người. Các đặc sản này lại góp phần xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng tộc người. Điển hình như 4 xã vùng cao huyện Mường Khương đã bảo tồn được giống lúa “séng cù” trở thành đặc sản, xây dựng được thương hiệu, nâng giá thành lên gấp 2 đến 3 lần. 26 hộ gia đình người Dao ở thôn Shán Lùng (Bát Xát) đã bảo tồn loại rượu Shan Lùng trở thành đặc sản cung cấp cho Lào Cai với giá thành gập 3 lần trước đây. Các đặc sản ở Lào Cai được đánh thức và phát huy, lại được đăng ký thương hiệu nên đã góp phần vào xóa đói giảm nghèo rất nhanh. Nhiều làng, nhiều hộ gia đình nhờ đặc sản đã trở thành làng giàu có như các làng người Hmông có thổ cẩm, rượu ngô, chè san, thảo quả...hoặc như các làng người Dao có sản phẩm về dược liệu, về cây con...Lào Cai trong 10 năm qua đã xây dựng được nhiều thương hiệu hàng hóa từ đặc sản như gạo séng cù, tương ớt ở Mường Khương, rượu ngô Bản Phố, rượu thóc Shán Lùng, Nậm Pung ở Bát Xát, thuốc tắm, su su, hoa hồng Sa Pa, “thắng cố ngựa” ở Mường Khương, Si Ma Cai, gà đen ở Bắc Hà, lợn “cắp nách” ở vùng cao trở thành đặc sản quen thuộc.

4. Từ thực tiễn bảo tồn di sản văn hóa ở Lào Cai có thể rút ra một số kinh nghiệm bước đầu gắn với vấn đề bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc ở nước ta.

- Bảo tồn di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhưng rất khó khăn cần phải có hướng tiếp cận mới về nhân học ứng dụng, về lý thuyết tổng thể nguyên hợp của văn hóa dân gian...Đặc biệt, cần coi trọng nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học thể hiện cả từ khâu định hướng, khảo sát, đến vấn đề bảo tồn, xây dựng cơ chế chính sách...

- Trước hết, cần phải có sự chuyển biến nhận thức tiếp cận với di sản văn hóa tộc người một cách khoa học ở các cơ quan đề ra chính sách. Đồng thời cần có sự chỉ đạo đồng bộ của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương (Tỉnh ủy và các Huyện ủy có nghị quyết chuyên đề, có đề án, Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng dự án thực hiện).

- Từ thực tiễn bảo tồn văn hóa vật thể ở Lào Cai cần gắn vấn đề bảo tồn di sản văn hóa với các nhiệm vụ trọng tâm như xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực...của địa phương. Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận từ cấp ủy đảng tới người dân với vấn đề bảo tồn di sản văn hóa.

- Trong vấn đề bảo tồn di sản văn hóa cần đặc biệt chú ý vai trò của di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể là cái hồn của mỗi tộc người, là sắc thái riêng của từng dân tộc. Vì vậy bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể là tôn trọng văn hóa tộc người. Nhưng muốn bảo tồn văn hóa phi vật thể cần có các công đoạn mang tính chất khoa học:

+ Bước 1: tiến hành khảo sát, tổng kiểm kê các di sản.

+ Bước 2: Điều tra nhu cầu của người dân và lựa chọn các di sản để bảo tồn. Trong đó coi trọng vấn đề bảo tồn “sống” các di sản trong môi trường sinh hoạt của người dân. Di sản văn hóa phi vật thể được lưu truyền chủ yếu qua phương thức truyền dạy bằng các hình thức truyền miệng, trình diễn...Vì vậy, khi bảo tồn cần đầu tư cho vấn đề truyền dạy. �z Lào Cai đã tiến hành mời nghệ nhân truyền dạy cho đối tượng thanh niên ở cộng đồng và thiếu niên ở các trường học. Các trường dân tộc nội trú, các trường bán trú dân nuôi thực sự là môi trường rất quan trọng và cần thiết để trao truyền di sản văn hóa. Vì thế, cần tiến hành lựa chọn các trường này là địa điểm để thực hiện trao truyền các loại di sản văn hóa phù hợp.

+ Bước 3: Di sản văn hóa muốn được cộng đồng thừa nhận và sống trong cộng đồng thì đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp, chính sách đặc biệt như giải pháp đầu tư tổ chức các cuộc liên hoan bảo tồn các di sản như thi hát ru, thi sử dụng nhạc cụ dân tộc, thi “sơn ca”, thi trò chơi dân tộc, thi ẩm thực...Mặt khác, cần xây dựng các chính sách về đầu tư quảng bá thương hiệu, đầu tư xây dựng mô hình thực nghiệm truyền dạy, các chính sách tôn vinh các nghệ nhân, các chính sách tập hợp đội ngũ tri thức dân gian...

Như vậy, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân tộc vừa là nhiệm vụ trước mặt, vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở vùng đồng bào các dân tộc ít người là một nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, nhưng ở các tỉnh biên giới như Lào Cai nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa càng trở thành cấp bách hơn. Vì đó còn là nhiệm vụ góp phần nâng cao ý thức quốc gia, đề cao tinh thần dân tộc, bảo vệ chủ quyền biên giới. Mỗi di sản văn hóa các dân tộc (dù là của người Kinh hay của đồng bào các dân tộc thiểu số) vừa là tài sản của tộc người, nhưng đồng thời cũng là cột mốc văn hóa. Bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc phải coi trọng sự đồng thuận của người dân và cần có phương pháp nghiên cứu một cách khoa học gắn liền với thực tiễn từng vùng.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá của Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009.

2. Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành – Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Hà Nội năm 2003.

3. Trần Hữu Sơn – Văn hoá dân gian Lào Cai – Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc – Hà Nội năm 1997 – trang 15, 16

4. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai - Đề án số 16 “Phát triển văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc Lào Cai giai đoạn 2006 – 2010”