NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA BẢO VỆ TRẺ EM GIAI ĐOẠN 2011-2015   (15/02/2011 )
  Mục tiêu tổng quát của chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015: Nhằm tạo dựng được môi trường sống mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ em có nguy cơ cao. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ gây tổn thương cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực, buôn. Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị tổn thương, tạo cơ hội để các em tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý, nhận thức, tình cảm, đạo đức và xã hội
  Thực trạng bảo vệ trẻ em

Trong những năm qua, công tác bảo vệ trẻ em đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn, khung khổ luật pháp và chính sách trợ giúp trẻ em từng bước được hoàn thiện và mở rộng. Các hoạt động bảo vệ trẻ em bước đầu được triển khai thực hiện ở cả 3 cấp độ: (i) phòng ngừa, (ii) can thiệp giảm thiểu các nguy cơ (iii) hỗ trợ phục hồi, hòa nhập cho trẻ em bị tổn thương và hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, kết quả thực hiện các mục tiêu bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đến năm 2010 chưa đạt theo kết quả mong muốn, trong số 36 chỉ tiêu đặt ra thì có tới 14 chỉ tiêu chưa đạt, trong đó có tới 5 chỉ tiêu thuộc về BVTE[1]. Điều đó cho thấy, công tác bảo vệ trẻ em vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức.

          Tỉ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn cao: Hiện nay, cả nước vẫn còn 1,53 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB), chiếm 6% so với tổng số trẻ em và chiếm 1,79% so với dân số. Nếu tính cả nhóm trẻ em nghèo (2,75 triệu), trẻ em bị bạo lực, bị buôn bán và bị tai nạn thương tích thì tổng cộng có khoảng 4,28 triệu chiếm 5% dân số và khoảng 18,2% so với tổng số trẻ em[2]. Bên cạnh đó còn có khoảng 6,7% trẻ em trong độ tuổi từ 5-14 tham gia các hoạt động kinh tế[3]; trên 287 nghìn trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS[4]; hàng triệu trẻ em sống trong các gia đình có vấn đề xã hội như bố mẹ ly hôn, ly thân, phạm tội phải vào tù, có người mắc tệ nạn xã hội, tình trạng trẻ em bị sao nhãng diễn ra khá phổ biến ở nhiều gia đình kể cả gia đình nghèo và gia đình khá giả... Đa phần nhóm trẻ này vẫn gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi xã hội dành cho trẻ em và theo quan niệm của cộng đồng quốc tế thì đây là nhóm trẻ em có nguy cơ cao bị tổn thương.

Tình trạng trẻ em bị ngược đãi, xâm hại tình dục, bạo lực, buôn bán, bị bóc lột sức lao động vẫn diễn biến phức tạp và chưa ngăn chặn có hiệu quả: Hàng năm có khoảng 3.000-4.000 vụ ngược đãi, bạo lực trẻ em.Trong giai đoạn 2006-2010, trung bình một năm có khoảng 800 vụ xâm hại tình dục trẻ em với khoảng 900 em là nạn nhân, đặc biệt nghiêm trọng là một số nạn nhân mới chỉ ở độ tuổi 5-8 tuổi. Bên cạnh đó, tính đến cuối năm 2009 cả nước vẫn còn khoảng 26 nghìn trẻ em trong độ tuổi 8-15 phải lao động trong điều kiện nặng nhọc độc hại, nguy hiểm, trong số này có một số em phải bị bóc lột sức lao động ở mức thậm tệ như phải bán hàng rong ban đêm đến khoảng 2-3 giờ sáng, phải bán báo thuê suốt cả ngày...Các hành vi xâm hại tình dục, bạo lực, trừng phạt trẻ em ngày càng có tính chất nghiêm trọng, báo động về sự suy đồi đạo đức

    Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

Nhận thức và trách nhiệm bảo vệ trẻ em chưa đầy đủ, kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em của gia đình, cộng đồng còn hạn chế. Việc ngược đãi, xâm hại, bóc lột đối với trẻ em chưa được cộng đồng chủ động phát hiện sớm và báo cho các cơ quan chức năng để xử lý, can thiệp kịp thời. Tình trạng thiếu trách nhiệm của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái hay còn gọi là sự ”sao nhãng”  còn khá phổ biến ở nước ta. Thiếu khung pháp lý toàn diện về bảo vệ trẻ em, một số quy định của luật pháp còn chưa cụ thể và thiếu tính đồng bộ. Song song với đó, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng lại luôn có sự biến động do có sự thay đổi về cấu trúc tổ chức.Trước năm 2007, có khoảng 160 nghìn cộng tác viên bảo vệ chăm sóc trẻ em ở thôn, bản thì đến nay chỉ còn khoảng 7.000. Cấp huyện trước đây có từ 2-3 cán bộ chuyên trách bảo vệ chăm sóc trẻ em thì nay chỉ còn 1 người, có nơi còn phải kiêm nhiệm thêm việc khác. Cấp tỉnh trước đây có 6-7 cán bộ thì nay chỉ còn 3-4 cán bộ. Tỷlệ nhân viên công tác xã hội so với dân số ở nước ta khoảng 1/10.000 dân, trong khi đó nhiều nước đạt mức 1/2000 dân.Ngoài ra, Ngân sách chi cho hoạt động sự nghiệp BVTE quá thấp, chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế và đầu tư cho các lĩnh vực khác ở cả cấp trung ương và địa phương. Tổng kinh phí chi cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em giai đoạn 2006-2010 khoảng 2.416 tỷ đồng, trong đó chi trợ cấp xã hội hàng tháng cho trẻ em khoảng 1.406 tỷ đồng; chi cho việc thực hiện các chương trình đề án thuộc ngành Lao động Thương binh và Xã hội khoảng 260 tỷ đồng; ngân sách địa phương bố trí cho các hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em khoảng 250 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng và tổ chức quốc tế khoảng 500 tỷ đồng.

Định hướng trong 5 năm tới:

Mục tiêu tổng quát: tạo dựng được môi trường sống mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ em có nguy cơ cao. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ gây tổn thương cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực, buôn. Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị tổn thương, tạo cơ hội để các em tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý, nhận thức,  tình cảm, đạo đức và xã hội.

            Mục tiêu cụ thể:

a) Giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống dưới 5,5 % so với tổng số trẻ em.

b) 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhận được sự trợ giúp, chăm sóc từ cộng đồng và nhà nước để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển.

c) 70% trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ bị tổn hại được phát hiện sớm và can thiệp để giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ.

d) 50% số tỉnh, thành phố triển khai hệ thống bảo vệ trẻ em, trong đó có Trung tâm công tác xã hội trẻ em, Văn phòng tư vấn, Điểm tư vấn, mạng lưới Cộng tác viên, nhóm trẻ nòng cốt và hoạt động có hiệu quả.

Phạm vi và thời gian:Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn quốc và có ưu tiên cho các huyện nghèo, địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội và thời gian thực hiện chương trình trong vòng 5 năm từ 2011-2015.

          Nội dung hoạt động

Dự án 1. Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội: Nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội, các cơ quan nhà nước và chính trẻ em về quyền được bảo vệ và sự an toàn của trẻ em, thông qua việc xây dựng môi trường an toàn, thân thiện, phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và bị tổn thương. Dự án này tập trung vào tổ chức các chiến dịch truyền thông; nghiên cứu, xây dựng, phát triển các chương trình, sản xuất các sản phẩm truyền thông về bảo vệ trẻ em cho các kênh truyền thông đại chúng và các hoạt động tư vấn, truyền thông trực tiếp. Tổ chức các hoạt động tư vấn, truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, trường học về bảo vệ trẻ em có sự tham gia của cộng đồng, các thành viên gia đình, giáo viên và trẻ em.

          Dự án 2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ: Nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp, cộng tác viên thôn, bản và tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp xã. Dự án này tập trung vào các hoạt động: Khảo sát nhu cầu đào tạo; nghiên cứu xây dựng Chương trình đào tạo; giám sát kết quả đào tạo;Tổ chức tập huấn cho cán bộ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và cộng tác viên thôn, bản làm công tác BVCS trẻ em về kỹ năng lập kế hoạch và triển khai chương trình; kiến thức cơ bản về công tác xã hội với trẻ em, các kỹ năng cơ bản làm việc với trẻ em…

Dự án 3. Xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ BVTE: Nhằm hướng tới mục tiêu 50% tỉnh, thành phố xây dựng được hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở ít nhất 2 huyện, trong đó có ban chỉ đạo và nhóm công tác liên ngành cấp tỉnh, trung tâm công tác xã hội với trẻ em cấp tỉnh; ban chỉ đạo, văn phòng tư vấn, nhóm công tác liên ngành cấp huyện; Ban bảo vệ trẻ em, nhóm công tác liên ngành cấp xã; điểm tham vấn ở cộng đồng, trường học; mạng lưới cộng tác viên thôn, bản về bảo vệ trẻ em và nhóm trẻ nòng cốt. Vận hành cung cấp dịch vụ, chuyển tuyến và kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ em có hiệu quả. Dự án này tập trung và các hoạt động: Nghiên cứu xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn về hệ thống BVTE; nghiên cứu xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xác định khung pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của hệ thống tổ chức cung cấp dịch vụ BVTE. Hình thành mạng lưới cung cấp dịch vụ BVTE ở các địa phương. Tổ chức các hoạt động đào tạo nghiệp vụ, nâng cao năng lực và kỹ năng thực hành cho đội ngũ cán bộ. Tổ chức các hoạt động cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em. Trợ giúp nâng cao năng lực cho cha mẹ, người chăm sóc, cộng đồng về bảo vệ trẻ em ,về kỹ năng làm cha mẹ, nâng cao kỹ năng tự bảo vệ của chính trẻ em. Tổ chức các đoàn khảo sát học hỏi kinh nghiệm ở trong và ngoài nước về hệ thống bảo vệ trẻ em, nhất là mạng lưới cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em.

Dự án 4. Xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng nhăm thực hiện mục tiêu: 80% trẻ em khuyết tật được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình và phục hồi chức năng, giáo dục và các dịch vụ công cộng; 100% số trẻ em bị bỏ rơi , bị mồ côi do cha mẹ chết vì AIDS được chăm sóc bởi gia đình thay thế hoặc cộng đồng; Giảm 10% trẻ em lang thang so với đầu kỳ; Giảm 30% trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hai, nguy hiểm; Hàng năm giảm 10 % trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục;Giảm tỷ lệ trẻ em vi phạm pháp luật xuống dưới 7/10.000. Dự án này tập trung vào xây dựng và nhân rộng 4 mô hình BVCSTE: (i) Trợ giúp trẻ em mồ côi; trẻ em khuyết tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng (bao gồm cả nhóm trẻ em có nguy cơ cao); (ii) Trợ giúp trẻ em lang thang; lao động trẻ em (bao gồm cả nhóm trẻ em làm việc xa gia đình và nhóm có nguy cơ phải lang thang và lao động) dựa vào cộng đồng; (iii) Trợ giúp trẻ em bị xâm hại tình dục bao gồm cả trẻ em bị buôn bán, bắt cóc vì mục đích thương mại tình dục; trẻ em nghiện ma túy dựa vào cồng đồng (bao gồm cả nhóm trẻ em có nguy cơ cao); (iv) Trợ giúp người chưa thành niên vi phạm pháp luật dựa vào cộng đồng.

            Dự án 5. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm hướng đến mục tiêu: Một số quy định, điều luật trong các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi theo hướng thân thiện với trẻ em và tăng cường tính phòng ngừa, bảo vệ trẻ em; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi lần 2 theo hướng cụ thể hơn được Quốc hội thông qua trước năm 2013; Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, làm cơ sở để giám sát và đánh giá kết quả thực hiện hàng năm và 5 năm; đồng thời xây dựng được cơ sở dữ liệu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phục vụ cho công tác quản lý các cấp. Dự án này tập trung vào các hoạt động: Nghiên cứu tổng quan hệ thống luật pháp thân thiện với trẻ em, đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung, trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Tăng cường nhận thức và cam kết, xây dựng năng lực và phát triển các mô hình cho những cán bộ thực thi pháp luật (Công an, Kiểm sát, Tòa án) và cán bộ xã hội làm việc với trẻ em hoặc người chưa thành niên là nạn nhân, nhân chứng và người chưa thành niên vi phạm pháp luật hoặc trẻ em và người chưa thành niên có nguy cơ. Nghiên cứu đánh giá tổng quan Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004; nghiên cứu sửa đổi lần thứ 2 trình cấp có thẩm quyền ban hành. Hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu BVCS&GD trẻ em; xây dựng phần mềm xử lý, lưu trữ thông tin, số liệu; tổ chức thu thập, lưu trữ thông tin, số liệu; xuất bản ấn phẩm và cung cấp thông tin; tổ chức các đợt giám sát nhằm hỗ trợ cho cán bộ địa phương thu thập, cập nhật thông tin vào sổ ghi chép ban đầu, điền thông tin vào phiếu đánh giá nguy cơ và xây dựng báo cáo đánh giá nguy cơ; phương pháp thẩm định và xác minh thông tin, số liệu trong quá trình quản lý ca.

          Giải pháp thực hiện: Bao gồm 5 nhóm giải pháp chính:

(i) Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.Nghiên cứu trình ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đưa mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm và từng thời kỳ của trung ương và địa phương.

            (ii) Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực từ Nhà nước, cộng đồng và quốc tế cho việc thực hiện Chương trình.Ngân sách cần bố trí khoảng 1.755 tỷ đồng (kinh phí sự nghiệp là 1.558 tỷ đồng và kinh phí đầu tư phát triển lag 197 tỷ đồng), trong đó ngân sách trung ương là 913 tỷ đồng; ngân sách địa phương là 742 tỷ đồng; Huy động quốc tế khoảng 100 tỷ đồng.

(iii) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, hình thành cơ chế thông tin báo cáo thường xuyên theo định kỳ về công tác BVTE trên cơ sở thiết lập bộ chỉ số về BVTE và thực hiện quyền trẻ em; xây dựng và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu về BVTE và thực hiện quyền trẻ em.Xây dựng cơ chế kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và liên ngành về các trường hợp ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột trẻ em.

(iv)Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác dự báo, hoạch định chính sách, chiến lược và quản lý. Khuyến khích các nghiên cứu ứng dụng và áp dụng các mô hình quản lý, mô hình dịch vụ đáp ứng các nhu cầu về BVTE.

 (v)Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế cả đa phương, song phương và phi chính phủ nhằm tranh thủ nguồn lực và kỹ thuật.Chủ động tham gia và đăng cai tổ chức các sự kiện quốc tế và khu vực về BVCSTE.

Tổ chức thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiLà cơ quan đầu mối quản lý Chương trình cùng các Bộ, ngành, cơ quan ( Bộ Tư Pháp, Bộ Công An, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văm hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân… ) tham gia thực hiện Chương trình có trách nhiệm xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm và hàng năm theo chức năng, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các nội dung được phân công.

           Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch, xác định mục tiêu và phân công cụ thể nhiệm vụ cho các ngành có liên quan nhằm cụ thể hoá Chương trình bảo vệ trẻ em trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Chỉ đạo, triển khai thực hiện các Dự án, giải pháp của Chương trình trên địa bàn tỉnh, thành phố; Bố trí ngân sách, nhân lực, cơ sở vật chất thực hiện Chương trình.

          Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trân tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, Hội Bảo vệ quyền trẻ emphối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong quá trình triển khai thực hiện chương trình; chỉ đạo hệ thống ngành dọc phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành tham gia Chương trình thực hiện tốt các hoạt động ở các địa phương; lồng ghép thực hiện mục tiêu của Chương trình với nhiệm vụ thường xuyên của hệ thống MTTQ và các tổ chức thành viên./.

 

TS. Nguyễn Hải Hữu Cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em