TÓM TẮT ĐỀ ÁN 6

Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010

 

                Đề án gồm 3 dự án thành phần:

                - Dự án 1: Cấp nước sinh hoạt cho nhân dân vùng nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010;

                - Dự án 2: Phát triển hệ thống thuỷ lợi tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010;

- Dự án 3: Phát triển hệ thống điện nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010;

                I. Mục tiêu của Đề án:

                1. Mục tiêu tổng quát:       

Đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế đảm bảo hiệu quả được nâng cao, đáp ứng mục tiêu phát triển sản xuất, đời sống nhân dân vùng nông thôn giai đoạn 2006 - 2010.

2. Mục tiêu cụ thể:

Về thủy lợi: đầu tư có tỷ lệ diện tích được chủ động nước tưới: vụ đông xuân đạt 95%, vụ hè thu trên 80 % (ước đến 2010, diện tích vụ hè thu 18 nghìn ha, vụ đông xuân 8,5 nghìn ha).

Về cấp nước sinh hoạt: Cải tạo, mở rộng một số công trình cũ và đầu tư xây dựng mới để nâng tỷ lệ 62% lên 75% số hộ vùng nông thôn có đủ, ổn định nước sinh hoạt hợp vệ sinh (ước 2010 vùng nông thôn có 92 ngìn hộ).

Về cấp điện: đầu tư để đến năm 2010 có 100 % số xã, 70% số thôn bản, 73% số hộ được sử dụng điện lưới (năm 2005 đạt 50%), tổng số hộ được sử dụng điện 78% (trong đó 5 % sử dụng thủy điện cực nhỏ).

II. Nội dung chính của Đề án.

Nhiệm vụ chính là xác định, lựa chọn danh mục công trình để nâng cấp, xây dựng mới đảm bảo có hiệu quả; tổ chức quản lý khai thác, bảo dưỡng tăng tuổi thọ, nâng cao hiệu quả đầu tư.

1. Thủy lợi.

Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cho 300 công trình, phục vụ cho khoảng 7 nghìn ha đất canh tác. Trong đó năng lực mới tăng 5 nghìn ha (diện tích chưa được đầu tư thủy lợi) và năng lực ổn định 2 nghìn ha (diện tích có thủy lợi nhưng chưa đồng bộ). Trước hết là tập trung cải tạo nâng cấp các công trình phục vụ diện tích lớn, suất đầu tư nhỏ; vùng cao ưu tiên đầu tư khu vực đồng bào đặc biệt khó khăn; vùng thấp ưu tiên đầu tư các vùng trọng điểm lúa, sản xuất giống nông nghiệp.

Số công trình thuộc địa bàn huyện, thành phố: Si Ma Cai 27 công trình, phục vụ 540 ha; Bắc Hà 32 công trình, 930 ha; Bát Xát 60 công trình, 1.290 ha; Sa Pa 21 công trình, 550 ha; Mường Khương 28 công trình, 670 ha; Văn Bàn 45 công trình, 1.520 ha; Bảo Yên 59 công trình, 870 ha; Bảo Thắng 25 công trình, 640 ha; Lào Cai 3 công trình, 40 ha.

Các công trình chủ yếu được thiết kế đầu tư kiên cố theo hình thức đập dâng, kênh dẫn. Ngoài ra, nếu điều kiện cho phép, áp dụng hình thức bơm va, bơm thủy luân.

2. Cấp nước sinh hoạt.

Đầu tư sửa chữa 180 hệ thống cấp nước tự chảy bị hỏng, xuống cấp; cải tạo 2.500 giếng để ổn định cấp nước khoảng 15,5 nghìn hộ (đầu tư chiều sâu); Đầu tư làm mới 580 hệ thống tự chảy, phục vụ thêm 15 nghìn hộ gia đình, một số cơ quan thuộc xã (đầu tư chiều rộng). Ưu tiên đầu tư tu bổ để khôi phục, nâng cao năng lực hoạt động của những công trình đã bị xuống cấp; đầu tư mới công trình phục vụ vùng sắp xếp dân cư, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn.

Mô hình áp dụng: Vùng cao: đầu tư chủ yếu theo hình thức hệ tự chảy quy mô nhỏ lấy nước từ các khe, mạch đùn có xử lý lắng lọc đơn giản. Trường hợp khu dân cư ở xa nguồn nước, dân cư ở không tập trung, hỗ trợ đầu tư bể, lu loại 2 m3. Nếu dân cư ở quá phân tán, bố trí sắp xếp cho phù hợp để đầu tư cấp nước thuận tiện. Vùng thấp: đầu tư theo hình thức tập trung tự chảy có bố trí xử lý lắng, lọc chung và bể lọc nhỏ từng hộ gia đình tự làm; Giếng xây khai thác nước ngầm dùng bơm tay, bơm điện.

3. Cấp điện:

Đầu tư cho 46 xã chưa có điện lưới (Si Ma Cai 5 xã, Bắc Hà 10 xã, Bát Xát 7 xã, Sa Pa 11 xã, Mường Khương 3 xã, Văn Bàn 8 xã, Bảo Yên 2 xã).

Cải tạo, nâng cấp lưới điện cho 25 xã; mở rộng lưới điện cho 34 xã đã có điện, nhưng còn một số khu dân cư tập trung chưa được đầu tư; vùng khó khăn đầu tư điện lưới, đầu tư các máy thủy điện cực nhỏ để sử dụng.

Khối lượng chính gồm khoảng 655 km đường dây trung thể, 780 km đường dây hạ áp, 215 trạm hạ áp, dung lượng khoảng 15.740 KVA; công tơ và nhánh rẽ hộ tiêu thụ điện; Đầu tư các máy thuỷ điện cực nhỏ ở những nơi thuận lợi nguồn nước chạy máy phát, chưa có điều kiện đầu tư điện lưới quốc gia (4.500 máy) dân tự đầu tư.

                III. Nhu cầu vốn của Đề án.

1. Tổng nhu cầu , cơ cấu vốn:

Tổng nhu cầu vốn để thực hiện đề án khoảng: 880 tỷ đồng

 

Tổng nhu cầu vốn để thực hiện đề án

Đơn vị: Tỷ đồng.

 

Nguồn vốn

Tổng số

Thuỷ lợi

Cấp nước

Cấp điện

 

Tổng số

880

345

135

400

1

Ngân sách nhà nước

435

260

115

60

-

NS địa phương

40

35

5

0

-

NSTW đầu tư theo MT

220

50

110

60

-

Trái phiếu Chính phủ

160

160

 

 

2

Vốn nước ngoài

240

45

5

190

3

Vốn Doanh nghiệp

135

 

 

135

4

Dân đóng góp

70

40

15

15

5

Vốn khác

 

 

 

 

3. Phân kỳ vốn đầu tư:

Lĩnh vực

Tổng số

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng cộng

880

240

265

184

123

68

Thuỷ lợi

345

31

103

95

80

36

Cấp nước SH

135

34

32

29

23

17

Cấp điện

400

175

130

60

20

15

                IV. Giải pháp thực hiện.

1. Về nguồn vốn đầu tư:

- Bám sát các chủ trương, nội dung chương trình, dự án của TW triển khai đầu tư cho vùng nông thôn để khai thác, lồng ghép, bố trí có hiệu quả nguồn vốn ngân sách TW.

- Tranh thủ khai thác tốt các nguồn tài trợ, nhất là các nhà tài trợ nước ngoài

- Huy động nhân dân đóng góp:

- Định hướng bố trí nguồn vốn đầu tư từng lĩnh vực công trình như sau:

1.1. Đầu tư thuỷ lợi: Đầu tư công trình được phê duyệt dự án nguồn trái phiếu Chính phủ; vốn do NSTW qua Bộ NN&PTNT đầu tư một số hồ, đập có quy mô lớn; Đầu tư theo chương trình, QĐ của Chính phủ đang triển khai trên địa bàn như CT135, xoá đói giảm nghèo, QĐ120, NQ37; vốn nước ngoài như WB, ADB; vốn nhân dân đóng góp và ngân sách của tỉnh để đầu tư chương trình kiên cố hóa kênh mương vùng trọng điểm lúa, vùng sản xuất giống cây nông nghiệp, sửa chữa nhỏ hàng năm.

1.2. Đầu tư cấp nước sinh hoạt: Nguồn vốn chủ yếu bố trí từ QĐ134, CT135, CT nước sạch &VSMT; nhân dân đóng góp, vốn nước ngoài và vốn vay tín dụng ưu đãi.

1.3. Đầu tư cấp điện: Nguồn vốn WB  theo dự án năng lượng nông thôn đã được phê duyệt dự án và có kế hoạch đầu tư; vốn khấu hao ngành Điện; vốn ngân sách theo các chương trình, quyết định đang triển khai trên địa bàn tỉnh, trong đó kể cả đầu tư đường dây hạ thế sau các trạm biến áp do ngành Điện đã đầu tư và vốn do nhân dân đóng góp xây dựng đường nhánh rẽ hộ tiêu thụ, lắp đặt công tơ, máy thuỷ điện nhỏ.

2. Về quy hoạch, thiết kế các hệ thống công trình: Đầu tư các công trình phải bám sát quy hoạch sắp xếp dân cư, phát triển sản xuất trên từng địa bàn.

Trong đầu tư cần bám sát quy hoạch và tiến độ đầu tư các công trình thủy điện trong từng khu vực để tính toán lợi dụng nguồn nước, kết hợp đầu tư cho hiệu quả.

Khi khảo sát, thiết kế lưu ý việc lựa chọn nguồn nước ổn định, nhất thiết có ý kiến của địa phương tránh tình trạng nhân dân tranh chấp nguồn nước giữa các thôn, giữa các hộ; được nguồn nước sinh hoạt, mất nguồn nước cho thủy lợi.

Đối với những công trình cấp nước tập trung: đường ống thiết kế dùng ống nhựa HDPE, những nơi địa chất là đá hoặc địa hình phức tạp mới dùng ống thép để giảm chi phí đầu tư; Chủ yếu bố trí các bể chứa nước ở cụm hộ, hạn chế việc đầu tư bể và đường ống đến từng hộ (phần này do hộ tự đầu tư).

Đối với công trình thủy lợi: vốn Nhà nước chỉ hỗ trợ đầu tư công có quy mô phục vụ tối thiểu 5 ha. Những công trình phục vụ dưới 5 ha do nhân dân tự đầu tư, nếu những hộ hưởng lợi là hộ nghèo thì được xét để vốn Nhà nước hỗ trợ phần kinh phí mua vật liệu không khai thác được tại địa phương xã.

Quan tâm công tác bảo vệ ổn định nguồn nước thông qua việc phát triển rừng.

3. Về cơ chế, chính sách:

Thực hiện theo cơ chế đã ban hành, đang thực hiện như: Về quản lý đầu tư; Về quản lý khai thác, bảo quản công trình.

Tăng cường giao cho xã tự tổ chức nhân dân địa phương thi công các công trình và tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc của cấp tỉnh, huyện đối với cơ sở.

Hàng năm, tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân quản lý, vận hành các công trình ở cơ sở.

Phát huy hơn nữa vai trò giám sát đầu tư của cộng đồng  và hoạt động của Thanh tra nhân dân; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đề cao những ý kiến, tâm tư nguyện vọng để nâng cao, phát huy tính tự lực tự cường của người dân.

IV. Tổ chức thực hiện.

1. Sở Nông nghiệp & PTNT: Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ về lĩnh vực thuỷ lợi, cấp nước. Khai thác nguồn lực qua Bộ Nông nghiệp & PTNT; các tổ chức trong và ngoài nước.

                2. Sở Công nghiệp: Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ (cơ quan thường trực) về lĩnh vực điện. Chịu trách nhiệm khai thác nguồn lực qua Bộ Công nghiệp, Tổng công ty Điện lực; các tổ chức trong và ngoài nước.

3. Điện lực tỉnh: Chịu trách nhiệm đầu tư các công trình điện thuộc ngành điện quản lý đầu tư; Phối hợp ngành Công nghiệp, UBND các huyện, thành phố trong công tác đầu tư xây dựng và GPMB công trình; quản lý khai thác, vận hành hệ thống lưới điện nông thôn thuộc phạm vi được giao quản lý.

4. UBND các huyện chỉ đạo việc xây dựng phát triển thuỷ lợi, cấp nước, điện trên địa phương mình, phối hợp với ngành Nông nghiệp, Công nghiệp, Điện lực trong công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng và công tác GPMB.

5. UBND các xã, phường thị trấn tổ chức huy động nhân dân tham gia các công trình, phối hợp với UBND huyện, ngành chức năng trong công tác GPMB, công tác đầu tư xây dựng; Trực tiếp tổt chức quản lý khai thác sử dụng, bảo vệ, bảo dưỡng công trình được đầu tư trên địa bàn.

6. Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Tài chính: tổng hợp, cân đối các nguồn vốn đầu tư đề án.

7. Các sở, ban, ngành có liên quan căn cứ chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp với Ngành Nông nghiệp, Công nghiệp, UBND các huyện, thành phố cùng thực hiện đề án đúng tiến độ đề ra.